Khi nhắc đến những gia đình trí thức bậc nhất của Việt Nam, không thể không kể đến đại gia đình cố Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân. Đây không chỉ là cái nôi của tri thức mà còn là biểu tượng đẹp về đạo đức, sự tận tụy và truyền thống hiếu học bền bỉ xuyên thế hệ.

Cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, nhà biên soạn từ điển, học giả nổi tiếng Nguyễn Lân (1906 – 2003) là người đã dành trọn đời để cống hiến cho nền giáo dục Việt Nam. Ông được xem là người có công rất lớn trong việc xây dựng bộ môn và khoa Tâm lý học, Giáo dục học của hệ thống các trường Sư phạm ở Việt Nam. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân đầy cao quý.
Cố Giáo sư Nguyễn Lân sinh ra trong một gia đình nghèo ở vùng bạc điền thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Năm 1932, ông tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Sư Phạm Đông Dương. Từ đó ông đã gắn bó cả cuộc đời mình với sự nghiệp trồng người.

Năm 1925., khi còn là học sinh trung học, Nguyễn Lân đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên “Cậu bé nhà quê”. Đó là một phần tự truyện đầy xúc động về thời thơ ấu của ông. Về sau, cuốn tiểu thuyết này được dịch sang tiếng Pháp và đến năm 1934, nó đã được dùng làm sách giáo khoa cho học sinh.
Không chỉ được biết đến là Nhà giáo, có công đào tạo rất nhiều thế hệ học sinh, cố Giáo sư Nguyễn Lân còn là nhà nghiên cứu, biên soạn từ điển nổi tiếng. Năm 1971, ông về hưu ở tuổi 67, từ đó cho đến khi qua đời ở tuổi 97, ông đã dành trọn thời gian cho việc biên soạn từ điển và nghiên cứu nhằm gìn giữ, phát triển tiếng Việt. Các cuốn từ điển do Nguyễn Lân biên soạn có thể kể đến như: Từ điển Việt-Pháp (1989), Từ điển Hán-Việt, Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp-Việt (1993), Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000)… Nhờ những cống hiến miệt mài này, năm 2001, ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng nhà nước về khoa học và công nghệ cho “Cụm công trình về giáo dục học từ điển tiếng Việt”.

Ngọn lửa tri thức được gìn giữ qua nhiều thế hệ
Cố Giáo sư Nguyễn Lân (1906 – 2003) một trong những cây đại thụ của ngành giáo dục Việt Nam, cả đời cống hiến cho sự nghiệp “trồng người”, là người đặt nền móng cho các bộ môn Tâm lý học, Giáo dục học trong hệ thống các trường Sư phạm. Không dừng lại ở vai trò người thầy, ông còn là một học giả, nhà biên soạn từ điển tiếng Việt nổi tiếng với hàng loạt công trình đồ sộ, giá trị đến tận ngày nay.

Tám người con, tám con đường học thuật khác nhau, nhưng tất cả đều chọn nghề làm thầy – thầy giáo và thầy thuốc, như một sự tiếp nối đầy tự hào của “ngọn lửa Nguyễn Lân”.
Con trai cả GS.TSKH Nguyễn Lân Tuất (đã qua đời) nguyên Chủ nhiệm khoa lý luận và sáng tác của Nhạc viện Novoxibiec – Nga. Ông là người Việt đầu tiên được phong tặng Nghệ sĩ Công huân Nga.
Người con thứ hai, nữ TS Nguyễn Tề Chỉnh (đã qua đời) nguyên giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người con thứ ba, GS. TSSH, NGND Nguyễn Lân Dũng, nguyên Giám đốc Trung tâm vi sinh vật học ứng dụng, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, XI, XII, giảng viên Đại học Khoa học Tự nhiên, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Người con thứ tư, PGS.TS Nguyễn Lân Cường (đã qua đời) là nhà khảo cổ học, nhà giáo, nhà nhân chủng học, nhạc trưởng và nhạc sĩ. Lúc sinh thời, ông từng đảm nhiệm vị trí Tổng Thư ký Hội Khảo cổ Việt Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hội Âm nhạc Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Cổ sinh địa tầng Việt Nam, Trưởng ban Kiểm tra Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội.
Người con thứ năm, GS.TS Nguyễn Lân Hùng là một chuyên gia nông nghiệp xuất sắc. Ông từng là giảng viên chính khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay ông là chuyên gia sinh học, Tổng thư ký Hội các ngành sinh học Việt Nam.
Người con thứ sáu, PGS. TS Nguyễn Lân Tráng, giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội.
Người con thứ bảy, GS.TS, NGND, AHLĐ Nguyễn Lân Việt là Giáo sư đầu ngành Tim mạch Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch – Đại học Y Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam.
Người con út, PGS. TS Nguyễn Lân Trung nguyên Hiệu Phó Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Pháp thành phố Hà Nội.
Gia đình Nguyễn Lân có thể được ví như một viện hàn lâm thu nhỏ, nơi gần 60 thành viên thì có đến 20 người là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, một con số gần như “khó tin” nhưng lại là sự thật đầy ngưỡng mộ.

Giáo dục gia đình là nòng cốt vững chắc nhất
Trong một chia sẻ đầy xúc động, GS Nguyễn Lân Dũng từng nói: “Người ta thường nói đến gen trí tuệ, đến di truyền… nhưng theo tôi, giáo dục gia đình và môi trường xã hội là điều quan trọng nhất”.
Gia đình Nguyễn Lân luôn giữ gìn một “quy tắc ngầm” – người lớn dạy người nhỏ, người đi trước nâng đỡ người đi sau. Những hình ảnh dung dị như mẹ mua lại quần áo cũ, giặt sạch đem tặng dân bản, đổi lại là vài đấu ngô sắn nuôi con, hay cha đạp xe xuyên núi rừng chỉ để kiểm tra lớp học… là những bài học sống động, truyền cảm hứng cho con cháu một cách tự nhiên nhất.
“Không được đánh con”, đó là nguyên tắc mà cố Giáo sư Nguyễn Lân kiên định thực hiện suốt đời. Những lời dạy như “Cứu một người là phức đẳng hà sa” hay “Mình không có tiền thì chỉ có học mới đổi đời” – tuy giản dị mà sâu sắc, đã nuôi lớn nên cả một đại gia đình tài danh.
Tấm gương sáng về sự giản dị, nhân văn và chuẩn mực
Gia đình Nguyễn Lân không chỉ là một biểu tượng học thuật mà còn là tấm gương đạo đức sống động giữa đời thường. Không màng vinh hoa phú quý, không chạy theo danh lợi, họ sống thanh bạch, tử tế và luôn sẵn sàng chia sẻ, cống hiến.
Một biểu tượng đẹp cho các thế hệ noi theo
Đại gia đình Nguyễn Lân không chỉ tạo dấu ấn trong giới học thuật mà còn lan tỏa thông điệp mạnh mẽ về giá trị giáo dục, nếp nhà và tình thân. Trong xã hội ngày càng xô bồ, hình ảnh một dòng họ “mỗi người là một ngọn đuốc tri thức” như Nguyễn Lân thực sự là một huyền thoại sống động, truyền cảm hứng mãnh liệt cho mọi gia đình Việt Nam.